Google+ Lịch sử phát triển của ngành vi sinh vật học | Zsinhhoc
Wednesday, January 2, 2013

1:52 PM

Từ cổ xưa, mặc dù chưa nhận thức được sự tồn tại của vi sinh vật, nhưng loài người đã biết khá nhiều tác dụng do vi sinh vật gây nên. Trong sản xuất và đời sống, con người đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm về các biện pháp để sử dụng hiệu quả các vi sinh vật có ích và phòng tránh các vi sinh vật có hại.


Trên những cố vật giữ lại từ thời cổ Hy Lạp người ta thấy minh họa cả quá trình nấu rượu. Những tài liệu cổ cho biết cách đây 6000 năm người dân Ai Cập ở dọc sông Nin đã có tập quán nấu rượu. Các hình vẽ ở Kim Tự Tháp cũng cho thấy nghề nấu rượu và làm bia ở Ai Cập Cổ đại cũng rất phổ biến. Ở Trung Quốc, rượu được sản xuất từ thời đại văn hóa Long Sơn (cách đây 4000 năm)…

Muối dưa, làm giấm, làm tương, làm mắm, làm mứt, sữa chua, ướp thịt, ướp cá… đều là những biện pháp hữu hiệu để bảo quản hoặc sử dụng, hoặc khống chế vi sinh vật phục vụ cho việc chế biến và bảo quản thực phẩm. Theo sách “Lĩnh nam chính quái” thì nhân dân ta từ thời Hùng Vương dựng nước đã biết “làm mắm bằng cầm thú, làm rượu bằng cốt gạo”.

Việc sáng tạo ra các hình thức ủ phân, ngâm phân, ngâm đay, ngâm gai, xếp ải, trồng luân canh với cây họ đậu… đều là  những biện pháp tài tình mà tổ tiển ta đã biết từ rất lâu để phát huy tác dụng của vi sinh vật trong nông nghiệp.

Người có công phát hiện và miêu tả thế giới vi sinh vật đầu tiên là một nhà buôn vải người Hà Lan Antonie van Leeuwenhoek (1632 – 1723). Ông đã tự chế tạo ra 400 chiếc kính hiển vi, trong đó có cái phóng đại đến 270 lần. Với những chiếc kính hiển vi cầm tay, gương hội tụ ánh sáng, có ốc điều chỉnh để cho vật định quan sát rơi đúng vào tiêu điểm và bằng cách ghé mắt vào khe nhỏ có thấu kính mái nhỏ xíu, Leeuwenhoek đã lần lượt quan sát mọi thứ xung quanh mình. Năm 1674 ông nhìn thấy các vi khuẩn và động vật nguyên sinh, ông gọi là các “Động vật vô cùng nhỏ bé”. Ông thấy các “động vật” này có rất nhiều trong bựa răng và ông viết rằng trong miệng của ông số lượng chúng còn đông hơn cả dân số của Vương Quốc Hà Lan.

Tới đầu thế kỉ 19 thì những chiếc kính hiển vi quang học hoàn chỉnh mới ra đời với các cống hiến to lớn của G.Battista Amici (1784 – 1860) Ernes Abbe (1840 – 1905), Karl Zeiss(1816 – 1888)…Năm 1934 chiếc kính hiển vi điện tử đầu tiên ra đời. Đó là loại kính không sử dụng thấu kính khuếch đại ánh sáng mà nhờ một chùm điện tử khuếch đại nhờ năng lượng điện từ trường.

Từ thập niên 60 của thế kỉ 19 bắt đầu thời kì nghiên cứu sinh lí của vi sinh vật. Người có công lớn trong việc này, về sau được coi là ông tổ của vi sinh vật học là nhà khoa học người Pháp Louis Pasteur (1822 – 1895).

Nhà bác học Đức Robert Koch (1843 – 1910) là người cộng sự mật thiệt với Pasteur. Ngoài công lao to lớn là phát hiện ra vi khuẩn bệnh lao, vi khuẩn tả, ông cong tìm ra phương pháp phân loại vi sinh vật trên môi trường đặc. Học trò của ông là J.R. Petri (1852 – 1921) đã phát kiến ra loại hộp bằng lồng thủy tinh.

Người đặt nền móng cho Miễn dịch học là nhà khoa học người Nga Ilya Ilitch Metchnikov (1845 – 1916) với lí thuyết thực bào nổi tiếng.

Người đầu tiên phát hiện ra kháng sinh là bác sĩ người Anh Alexander Fleming (1881 – 1955). Năm 1928, ông là người đầu tiên tách được chất kháng sinh penixilin từ nấm. 

DOWNLOAD:

0 nhận xét:

Post a Comment